1. Tổng quan về quy trình hỗ trợ giao dịch chứng khoán
Khi nhà đầu tư mua hoặc bán chứng khoán, phía sau lệnh giao dịch còn có nhiều quy trình hỗ trợ để giao dịch được ghi nhận, chuyển giao và hoàn tất. Có thể chia nội dung thành bốn phần chính: quy trình lưu ký chứng khoán, quy trình thanh toán – bù trừ, quy trình sửa lỗi sau giao dịch và thực hiện quyền.
Ngoài bốn nội dung chính này, bài học còn trình bày thêm quy trình hỗ trợ thanh toán. Đây là nội dung liên quan đến khoản đóng góp bằng tiền của các thành viên lưu ký vào quỹ hỗ trợ thanh toán đứng tên TTLK tại ngân hàng thanh toán.
Nói một cách đơn giản, giao dịch chứng khoán không chỉ là việc đặt lệnh mua hoặc bán trên hệ thống. Chứng khoán cần được lưu ký, tài khoản cần được quản lý, kết quả giao dịch cần được bù trừ và thanh toán, lỗi giao dịch nếu phát sinh cần được xử lý, còn các quyền của người sở hữu chứng khoán cũng cần được thông báo và thực hiện theo trình tự.
2. Lưu ký chứng khoán và hoạt động đăng ký
Phần đầu tiên là lưu ký chứng khoán. Nội dung này gồm hai nhóm: khái niệm và nguyên tắc lưu ký chứng khoán, sau đó là các hoạt động lưu ký chứng khoán.
Trước khi nói đến lưu ký, cần hiểu khái niệm hoạt động đăng ký. Hoạt động đăng ký là việc đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sở hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán. Hiểu đơn giản, đây là việc ghi nhận thông tin về chứng khoán và ghi nhận ai là người sở hữu chứng khoán đó.
Hoạt động lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình với chứng khoán lưu ký. Như vậy, lưu ký không chỉ là giữ chứng khoán trong hệ thống, mà còn gắn với việc hỗ trợ khách hàng thực hiện các quyền phát sinh từ chứng khoán đang sở hữu.
Nguyên tắc lưu ký chứng khoán là lưu ký theo hai cấp. Cấp thứ nhất là lưu ký, trong đó khách hàng lưu ký chứng khoán của mình tại thành viên lưu ký, viết tắt là TVLK. Cấp thứ hai là tái lưu ký, trong đó TVLK tái lưu ký chứng khoán của khách hàng tại TTLK.
Thành viên lưu ký nhận lưu ký chứng khoán của khách hàng với tư cách là người được khách hàng ủy quyền thực hiện các nghiệp vụ đăng ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán. Để lưu ký chứng khoán, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán với thành viên lưu ký.
TTLK nhận tái lưu ký chứng khoán của khách hàng từ các TVLK với tư cách là người được thành viên ủy quyền thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán. Để tái lưu ký chứng khoán, thành viên phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên TVLK tại TTLK.
Như vậy, khách hàng mở tài khoản tại TVLK, còn TVLK mở tài khoản tại TTLK để tái lưu ký chứng khoán của khách hàng. Đây là cách tổ chức lưu ký theo hai cấp.
3. Các hoạt động lưu ký chứng khoán
Hoạt động lưu ký chứng khoán gồm nhiều công việc khác nhau. Các hoạt động chính là mở và quản lý tài khoản lưu ký, ký gửi chứng khoán, rút chứng khoán, chuyển chứng khoán không qua giao dịch, cầm cố và giải tỏa chứng khoán cầm cố.
Đối với việc mở và quản lý tài khoản lưu ký, cần nhấn mạnh một số trường hợp đặc biệt. Công ty quản lý quỹ phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán riêng biệt cho công ty và cho từng quỹ đầu tư chứng khoán do công ty quản lý. Trong trường hợp quản lý danh mục đầu tư, công ty quản lý quỹ phải mở hai tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên công ty, gồm một tài khoản ủy thác cho nhà đầu tư nước ngoài và một tài khoản cho nhà đầu tư trong nước.
Điểm quan trọng của phần này là tài khoản lưu ký phải được tách bạch theo từng đối tượng. Tài khoản của công ty quản lý quỹ, tài khoản của từng quỹ đầu tư, tài khoản ủy thác cho nhà đầu tư nước ngoài và tài khoản cho nhà đầu tư trong nước cần được quản lý riêng.
Đối với ký gửi chứng khoán, TTLK thực hiện ký gửi chứng khoán trên cơ sở ủy quyền của tổ chức phát hành cho TTLK trong việc xác nhận thông tin về sở hữu chứng khoán của người đầu tư để thực hiện lưu ký chứng khoán. Trường hợp ký gửi chứng khoán trực tiếp tại TTLK, nhà đầu tư làm thủ tục ký gửi chứng khoán tại TVLK nơi mở tài khoản lưu ký theo quy định của thành viên, sau đó TVLK nộp hồ sơ tái ký gửi chứng khoán cho TTLK.
Tài khoản lưu ký của thành viên lưu ký tại TTLK gồm ba loại: tài khoản của chính thành viên, tài khoản cho khách hàng trong nước và tài khoản cho khách hàng nước ngoài. Tổng số dư trên các tài khoản lưu ký chứng khoán của khách hàng mở tại thành viên lưu ký phải luôn khớp với số dư các tài khoản lưu ký của thành viên lưu ký mở tại TTLKCK.
Nói đơn giản, số chứng khoán ghi nhận cho khách hàng tại TVLK phải khớp với số chứng khoán mà TVLK đang lưu ký tại TTLKCK. Việc khớp số dư giúp hệ thống lưu ký phản ánh đúng số lượng chứng khoán đang được quản lý.
4. Rút, chuyển khoản, cầm cố và giải tỏa chứng khoán
Trong hoạt động lưu ký, khách hàng có thể yêu cầu rút chứng khoán. Tuy nhiên, khách hàng chỉ được yêu cầu rút chứng khoán trong phạm vi số lượng chứng khoán sở hữu trên các tài khoản lưu ký, sau khi trừ đi số lượng chứng khoán đang bị tạm giữ hoặc đang bị cầm cố.
Căn cứ vào đề nghị rút chứng khoán của khách hàng, TTLK đề nghị tổ chức phát hành cấp Sổ hoặc Giấy xác nhận sở hữu mới cho khách hàng. Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Giấy đề nghị cấp Sổ hoặc Giấy chứng nhận chứng khoán của TTLK, tổ chức phát hành phải chuyển cho TTLK Sổ hoặc Giấy chứng nhận sở hữu chứng khoán để TTLK chuyển lại cho TVLK giao lại cho khách hàng.
Ngoài việc rút chứng khoán, TTLK còn được thực hiện chuyển khoản chứng khoán lưu ký không qua hệ thống giao dịch tập trung của SGDCK trong một số trường hợp. Các trường hợp gồm giao dịch chứng khoán lô lẻ, tất toán tài khoản tại TVLK này sang TVLK khác, chuyển khoản phục vụ giao dịch giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ, chuyển khoản để hỗ trợ và cho vay chứng khoán, chuyển khoản xử lý chứng khoán cầm cố theo hợp đồng cầm cố, biếu, tặng, cho, thừa kế chứng khoán, chia tách, sáp nhập, hợp nhất và góp vốn bằng chứng khoán.
Về thời hạn xử lý hồ sơ chuyển khoản, TVLK phải chuyển cho TTLK hồ sơ chuyển khoản chứng khoán trong vòng một ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu chuyển khoản của khách hàng. TTLK có trách nhiệm xử lý hồ sơ chuyển khoản chứng khoán trong thời gian theo quy định.
Đối với cầm cố và giải tỏa cầm cố, việc cầm cố chứng khoán lưu ký tập trung tại TTLK được thực hiện căn cứ vào hợp đồng cầm cố và phải được đăng ký giao dịch tại TTLK. Việc ủy quyền của bên cầm cố và bên nhận cầm cố cho TVLK với tư cách là bên thứ ba quản lý chứng khoán cầm cố được thực hiện theo quy định trong hợp đồng cầm cố.
Việc cầm cố và giải tỏa cầm cố chứng khoán của khách hàng của TVLK được thực hiện tại các TVLK nơi khách hàng mở tài khoản. TTLK thực hiện cầm cố và giải tỏa chứng khoán trên cơ sở bảng kê chứng khoán cầm cố và giải tỏa có xác nhận của bên nhận cầm cố.
Việc cầm cố chứng khoán chỉ có hiệu lực sau khi TTLK thực hiện bút toán ghi sổ chuyển chứng khoán từ tài khoản chứng khoán giao dịch của thành viên bên cầm cố sang tài khoản chứng khoán cầm cố của thành viên bên cầm cố. Ngược lại, việc giải tỏa chứng khoán cầm cố có hiệu lực khi TTLK thực hiện bút toán ghi sổ chuyển chứng khoán từ tài khoản chứng khoán cầm cố sang tài khoản chứng khoán giao dịch của thành viên bên cầm cố.
5. Khái niệm bù trừ và thanh toán chứng khoán
Phần thứ hai là bù trừ – thanh toán. Có thể chia phần này thành các nội dung: khái niệm, ngân hàng thanh toán, nguyên tắc và quy trình.
Hoạt động bù trừ là việc xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán nhằm đưa ra một con số ròng cuối cùng mà các đối tác tham gia phải thanh toán sau khi giao dịch. Kết quả bù trừ sẽ chỉ ra bên nào sẽ trả tiền và bên nào phải giao chứng khoán.
Hoạt động thanh toán là hoạt động hoàn tất các giao dịch chứng khoán, trong đó các bên thực hiện nghĩa vụ của mình. Có thể hiểu bù trừ là bước xác định nghĩa vụ cuối cùng, còn thanh toán là bước hoàn tất nghĩa vụ đó.
Hai phương thức bù trừ là bù trừ song phương và bù trừ đa phương. Bù trừ song phương là phương thức bù trừ các giao dịch chứng khoán được khớp trong cùng ngày giao dịch theo từng cặp đối tác giao dịch và theo từng loại chứng khoán, để xác định nghĩa vụ thanh toán ròng đối với tiền và chứng khoán của mỗi bên thanh toán.
Bù trừ đa phương là phương thức bù trừ các giao dịch chứng khoán được khớp trong cùng ngày giữa tất cả các bên tham gia giao dịch và theo từng loại chứng khoán, để xác định nghĩa vụ thanh toán ròng đối với tiền và chứng khoán của mỗi bên thanh toán.
Như vậy, điểm khác nhau nằm ở phạm vi bù trừ. Bù trừ song phương xét theo từng cặp đối tác giao dịch, còn bù trừ đa phương xét giữa tất cả các bên tham gia giao dịch trong cùng ngày, theo từng loại chứng khoán.
6. Ngân hàng thanh toán và nguyên tắc bù trừ – thanh toán
Ngân hàng thanh toán phải là ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng này phải có vốn điều lệ thực góp trên 3000 tỷ đồng, có kết quả hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm gần nhất, có hệ số rủi ro tín dụng trong mức an toàn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước, có hệ thống cơ sở vật chất đảm bảo thực hiện thanh toán giao dịch và kết nối được với TTLK.
Ngoài ra, ngân hàng thanh toán phải có cam kết với UBCKNN về việc cho vay thanh toán giao dịch chứng khoán trong trường hợp thành viên mất khả năng thanh toán.
Về nguyên tắc bù trừ và thanh toán, TTLK thanh toán theo kết quả bù trừ đa phương, song phương theo từng giao dịch. Việc bù trừ được thực hiện theo từng chứng khoán và tách biệt theo loại TKMG cho khách hàng trong nước, khách hàng nước ngoài và TKTD của TVLK. Đối với chứng khoán niêm yết, TTLK thanh toán căn cứ theo kết quả của SGDCK.
Đối với giao dịch mua bán chứng khoán chưa niêm yết của công ty đại chúng, TTLK thanh toán căn cứ vào kết quả giao dịch của nhà đầu tư được thực hiện tại các CTCK và chuyển vào TTLK thông qua SGDCK.
Các thành viên của TTLK phải mở tài khoản thanh toán bù trừ tại ngân hàng thanh toán để thanh toán tiền cho giao dịch chứng khoán. Việc này được thực hiện theo nguyên tắc giao dịch chứng khoán niêm yết tách biệt với giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết.
Trường hợp khách hàng mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại TVLK là ngân hàng thương mại và đặt lệnh giao dịch qua CTCK, việc thanh toán giao dịch sẽ do ngân hàng lưu ký thực hiện.
7. Phương thức và thời gian thanh toán
Một số phương thức và thời gian thanh toán cần ghi nhớ gồm:
Đối với giao dịch trái phiếu, việc thanh toán tại SGDCK và TTLK được thực hiện theo kết quả bù trừ đa phương với ngày thanh toán T+1.
Đối với giao dịch cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết, việc thanh toán được thực hiện theo kết quả bù trừ đa phương với ngày thanh toán T+3.
Đối với giao dịch thỏa thuận có khối lượng từ 100.000 cổ phiếu, việc thanh toán được thực hiện trực tiếp T+1.
Các mốc T+1 và T+3 là các mốc thời gian thanh toán cần ghi nhớ trong phần này.
8. Sửa lỗi sau giao dịch
Phần thứ ba là sửa lỗi giao dịch. TTLK thực hiện sửa lỗi trong hai nhóm trường hợp chính.
Trường hợp thứ nhất là TVLK là CTCK đặt nhầm hoặc sai lệnh của khách hàng. Các lỗi có thể là sai số tài khoản của khách hàng, sai chứng khoán, sai mức giá, thừa lệnh, nhầm lệnh mua thành lệnh bán hoặc ngược lại, sai số lượng, sai ngày và sai phương thức thanh toán.
Trường hợp thứ hai là thành viên của TTLK không kiểm soát được tỷ lệ ký quỹ theo quy định hiện hành, dẫn đến thiếu chứng khoán hoặc thiếu tiền để thanh toán.
Việc sửa lỗi được thực hiện theo một số nguyên tắc. Nếu TVLK sửa lỗi có tài khoản tự doanh, lệnh giao dịch của khách hàng sẽ được TTLK điều chỉnh thành lệnh giao dịch tự doanh của TVLK.
Nếu TVLK sửa lỗi không có tài khoản tự doanh, TTLK sẽ mở tài khoản hỗ trợ sửa lỗi cho TVLK để hạch toán tạm thời số chứng khoán mà TVLK được nhận hoặc phải trả do phải thực hiện sửa lỗi.
Khi được nhận chứng khoán từ việc sửa lỗi, TVLK phải có nghĩa vụ thanh toán ngay số chứng khoán được nhận về trên tài khoản hỗ trợ sửa lỗi vào phiên giao dịch gần nhất để TTLK tất toán.
Khi phải hoàn trả chứng khoán vay hoặc chứng khoán nhận hỗ trợ từ bên cho vay hoặc bên hỗ trợ, TVLK được phép duy trì tài khoản hỗ trợ sửa lỗi cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ đối với bên cho vay hoặc bên hỗ trợ chứng khoán.
Như vậy, quy trình sửa lỗi nhằm xử lý các sai sót phát sinh sau giao dịch, đồng thời có cơ chế hạch toán tạm thời trong trường hợp TVLK không có tài khoản tự doanh.
9. Thực hiện quyền của người sở hữu chứng khoán
Phần thứ tư là thực hiện quyền. Nội dung này gồm các quyền thực hiện, thông báo thực hiện quyền và lập danh sách người sở hữu chứng khoán.
Các quyền thực hiện gồm quyền bỏ phiếu, quyền nhận lãi, vốn gốc và cổ tức cổ phiếu bằng tiền, quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu, quyền nhận cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phiếu phát hành thêm, quyền chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi, quyền thay đổi tên và quyền tách gộp cổ phiếu.
Khi nhà đầu tư sở hữu chứng khoán, các quyền này có thể phát sinh tùy theo từng loại chứng khoán và từng sự kiện liên quan. Vì vậy, hệ thống lưu ký và các bên liên quan cần có quy trình thông báo, lập danh sách và thực hiện quyền.
10. Thông báo thực hiện quyền và ngày giao dịch không hưởng quyền
Các mốc thời gian trong thông báo thực hiện quyền cần được nắm rõ.
Chậm nhất là 10 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng, tổ chức phát hành gửi cho TTLK thông báo về ngày đăng ký cuối cùng kèm theo các tài liệu có liên quan.
Chậm nhất 09 ngày làm việc trước ngày đăng ký cuối cùng, TTLK gửi về TVLK và SGDCK thông báo về ngày đăng ký cuối cùng.
TVLK có trách nhiệm thông báo đầy đủ, chính xác nội dung thông báo về ngày đăng ký cuối cùng đến từng nhà đầu tư là khách hàng lưu ký chứng khoán liên quan tại TVLK. Việc thông báo này phải được thực hiện chậm nhất trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày ghi trên thông báo của TTLK.
Sau ngày đăng ký cuối cùng, TVLK tiếp tục gửi danh sách người sở hữu chứng khoán lưu ký cho TTLK. Chậm nhất 03 ngày làm việc sau ngày đăng ký cuối cùng, TVLK gửi TTLK danh sách người sở hữu chứng khoán lưu ký. Chậm nhất 02 ngày làm việc sau ngày đăng ký cuối cùng, TVLK gửi TTLK file dữ liệu danh sách người sở hữu chứng khoán lưu ký theo định dạng do TTLK quy định.
Có thể hình dung quy trình thông báo thực hiện quyền qua các mốc: ngày thông báo, ngày giao dịch không hưởng quyền, ngày đăng ký cuối cùng và ngày thực hiện quyền. Từ ngày thông báo đến ngày đăng ký cuối cùng có khoảng 10 ngày làm việc. Ngày giao dịch không hưởng quyền nằm trước ngày đăng ký cuối cùng 2 ngày làm việc. Ngày thực hiện quyền nằm sau ngày đăng ký cuối cùng và do tổ chức phát hành ấn định.
Các ký hiệu giao dịch không hưởng quyền gồm XR, XD, XA và XI.
XR là giao dịch không hưởng quyền đặt mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu.
XD là giao dịch không hưởng cổ tức của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ.
XA là giao dịch không hưởng cổ tức, quyền mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu trong cùng một ngày.
XI là giao dịch không hưởng lãi trái phiếu.
Các ký hiệu này giúp nhận biết trạng thái giao dịch không còn hưởng một quyền cụ thể nào đó.
11. Quy trình hỗ trợ thanh toán
Phần cuối trình bày quy trình hỗ trợ thanh toán. Quỹ hỗ trợ thanh toán được hình thành từ các khoản đóng góp bằng tiền của tất cả các TVLK vào tài khoản quỹ hỗ trợ thanh toán. Tài khoản này đứng tên TTLK và được mở tại ngân hàng thanh toán.
Mức đóng góp cố định ban đầu là 120 triệu đồng.
Mức đóng góp hằng năm được tính theo từng loại TVLK. Đối với TVLK là CTCK, mức đóng góp hằng năm là 0.01% trên doanh số giao dịch môi giới tại SGDCK của năm liền trước, nhưng không quá 02 tỷ đồng mỗi năm.
Đối với TVLK là ngân hàng thương mại, mức đóng góp hằng năm là 0.01% trên doanh số thực hiện thanh toán cho các giao dịch tại SGDCK thông qua hoạt động môi giới mà TVLK tham gia thanh toán của năm liền trước, nhưng không quá 02 tỷ đồng mỗi năm.
Như vậy, quỹ hỗ trợ thanh toán được tạo lập từ tiền đóng góp của các thành viên lưu ký. Thành viên có mức đóng góp cố định ban đầu và mức đóng góp hằng năm theo doanh số liên quan, nhưng mức đóng góp hằng năm không vượt quá giới hạn nêu trên.
12. Kết luận
Quy trình hỗ trợ giao dịch chứng khoán là hệ thống các công việc giúp giao dịch chứng khoán được ghi nhận và hoàn tất. Nội dung bắt đầu từ lưu ký chứng khoán, trong đó chứng khoán của khách hàng được đăng ký, lưu giữ, bảo quản và hỗ trợ thực hiện quyền theo nguyên tắc lưu ký hai cấp giữa khách hàng, TVLK và TTLK.
Sau lưu ký là bù trừ và thanh toán. Bù trừ giúp xác định nghĩa vụ ròng về tiền và chứng khoán của các bên tham gia giao dịch, còn thanh toán là bước hoàn tất nghĩa vụ đó. Quy trình này có sự tham gia của TTLK, SGDCK, ngân hàng thanh toán, TVLK và các thành viên liên quan.
Khi có sai sót sau giao dịch, quy trình sửa lỗi được sử dụng để xử lý các trường hợp sai tài khoản, sai chứng khoán, sai giá, thừa lệnh, nhầm mua bán, sai số lượng, sai ngày hoặc sai phương thức thanh toán. Nếu cần, TTLK có thể điều chỉnh thành lệnh tự doanh của TVLK hoặc mở tài khoản hỗ trợ sửa lỗi để hạch toán tạm thời.
Ngoài giao dịch mua bán thông thường, người sở hữu chứng khoán còn có các quyền như bỏ phiếu, nhận lãi, nhận vốn gốc, nhận cổ tức bằng tiền, nhận cổ tức bằng cổ phiếu, nhận cổ phiếu thưởng, mua cổ phiếu phát hành thêm, chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi, thay đổi tên và tách gộp cổ phiếu. Việc thực hiện quyền phải có thông báo, mốc thời gian và danh sách người sở hữu chứng khoán lưu ký.
Cuối cùng, quy trình hỗ trợ thanh toán được xây dựng từ khoản đóng góp của các TVLK vào quỹ hỗ trợ thanh toán. Toàn bộ các nội dung này cho thấy giao dịch chứng khoán không chỉ là thao tác mua bán, mà còn là một chuỗi quy trình hỗ trợ để chứng khoán, tiền, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được xử lý theo trình tự.