Lịch sử vắn tắt về gian lận trong kinh doanh và bong bóng đầu cơ

Nhà triết học Mỹ gốc Tây Ban Nha George Santayana nói: “Những người không thể nhớ về quá khứ sẽ bị lên án bằng cách lặp lại quá khứ đó.” Để cứu bạn – người vô sản tiềm tàng – tránh khỏi sự tàn phá tài chính, những điều dưới đây là tập hợp các hành vi gian xảo của các gian lận tài chính mà bạn cần biết để tránh. Đầu tiên, đây là một vài quy tắc đầu tư sẽ “giúp bạn tránh những gian lận như vậy:

  1. Không đầu tư vào các kế hoạch mờ ám mà những người quảng bá không chịu giải thích việc đầu tư một cách rõ ràng. Bạn phải đảm bảo hiểu được chính xác nơi mà mình có thể thu lợi từ đầu tư và nơi mà rủi ro sẽ xảy ra.

  2. Hãy cẩn thận với những “khoản lợi nhanh chóng” hoặc nhận được “thứ gì đó miễn phí”. Lời hứa về các khoản thu “quá tốt để trở thành sự thật” chính là như thế.

  3. Luôn kiểm tra cẩn thận và tham khảo trước khi đầu tư. Những kẻ lừa gạt thường dành nhiều thời gian, tiền bạc và nỗ lực để cố gắng xuất hiện hợp pháp nhất có thể. Hãy cẩn thận. Đừng để bị lừa.

Thật không may, nếu chỉ làm theo ba quy tắc trên thì cũng không thể đảm bảo rằng bạn sẽ không bao giờ bị gạt. Vì vậy, không “đặt tất cả trứng của bạn trong một giỏ hàng”. Bằng cách đó, ngay cả khi bạn bị lừa, không đồng nghĩa với việc bạn đã trắng tay. Hãy đa dạng hóa các khoản đầu tư.

Kế hoạch Ponzi

Trong kế hoạch Ponzi, các nhà đầu tư bị dụ dỗ để mua các khoản đầu tư bí ẩn hứa hẹn đem lại khoản lợi nhuận tuyệt vời. Nhà đầu tư được thanh toán nhanh chóng bằng tiền thu được từ những nạn nhân sau này, cho đến khi tiền không thể gia tăng thêm được nữa.

Kế hoạch Ponzi bị sụp đổ vì không có thu nhập tiềm ẩn – nó đơn thuần chỉ là sự xoay vòng tiền. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà đầu tư đều bị mất tiền. Các nhà đầu tư đầu tiên có thể đạt được lợi nhuận nếu họ biết cách quản lý để rút ra khỏi kế hoạch này kịp thời.

Charles Ponzi (1919). Với nguồn vốn vay 200 đô la, “kế hoạch Ponzi” – đặt theo tên của Charles Ponzi, đã mở một công ty giao dịch chứng khoán tại 27 đường School ở Boston vào ngày sau Giáng sinh năm 1919.

Ponzi đã tuyên bố đầu tư vào việc trao đổi các khoản chiết khấu giảm giá bưu chính quốc tế và hứa hẹn mức hoàn lại 50% trong 45 ngày và 100% trong 90 ngày. Các nhà đầu tư sẽ sớm nhận được những lợi nhuận ngoạn mục này. Trên thực tế, Ponzi đã trả cho các nhà đầu tư này bằng cách sử dụng tiền nhận được từ các nhà đầu tư mới.

Trong một thời gian, Ponzi là món bánh béo bở của vùng Đông Bắc. Công ty đầu tư của ông đạt được thành công lớn. Năm 1920, Ponzi mua một ngôi nhà lớn ở Lexington, một khu ngoại ô giàu có của Boston, và cả một ngân hàng địa phương, Ngân hàng Trust Hanover.

Tuy nhiên, hoạt động của Ponzi đã sụp đổ vào tháng 8 năm 1920, khi các nhân viên liên bang đột kích vào trụ sở của Ponzi và Bộ Tư pháp Massachusetts đã đưa ông ta vào tù – theo như các tờ báo địa phương. Chỉ trong vòng hơn 8 tháng, Ponzi đã thu được 10 triệu đô la từ hơn 10.000 nhà đầu tư. Khi phá sản, các nhà đầu tư chỉ nhận được 37 xen.

Tại phiên toà, Ponzi đã nhận tội về những cáo buộc gian lận liên quan đến gian lận tài chính và đã bị kết án 5 năm tù ở liên bang, phục vụ 3 năm. Khi được thả ra khỏi nhà tù liên bang và đối mặt với những cáo buộc của nhà nước, Ponzi đã nhảy lên tàu vượt biển và trốn sang Florida, nơi ông ta thành lập một công ty bất động sản và bắt đầu bán “tài sản chính của Florida” (đầm lầy, v.v…) cho các nhà đầu tư cả tin. Cuối cùng, Ponzi đã trải qua 9 năm trong một nhà tù ở Massachusetts và sau đó bị trục xuất về Ý.

Bernie Madoff (2008). Bernard Madoff, cựu Chủ tịch của thị trường chứng khoán NASDAQ, là một trong những nhà tài chính được tôn trọng nhất trên Phố Wall trước thời điểm ông bị bắt và bị buộc tội vào tháng 12 năm 2008 với việc điều hành kế hoạch Ponzi. Luật sư Hoa Kỳ chống lại Madoff đã miêu tả rằng ông thừa nhận: “Tất cả chỉ là một sự giả dối trắng trợn, về căn bản đây là kế hoạch Ponzi khổng lồ, trả cho các nhà đầu tư bằng số tiền không có ở đó”. Ước tính thiệt hại của nhà đầu tư vượt quá con số 50 tỷ đô la, làm cho vụ bê bối tài chính này trở nên lớn nhất trong lịch sử. Madoff đã nhận tội vào tháng 3 năm 2009.

“Chỉ khi thủy triều xuống thì chúng ta mới biết ai không mặc đồ bơi.”

Warren Buffett

~ Lời bình luận về việc nhìn thấy gian lận tài chính khi thị trường sụp đổ ~

Ngoài việc điều hành một công ty làm thị trường được tổ chức chặt chẽ và được tôn trọng, Madoff đã thực hiện một quỹ phòng hộ lớn cho các nhà đầu tư giàu có. Quỹ đầu tư mạo hiểm của Madoff cho thấy sự ổn định của các khoản lợi nhuận không hề tự nhiên, họ có một chiến lược đầu tư mơ hồ và đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán bí mật gồm 3 người tại một văn phòng nhỏ nằm phía trước một cửa hàng trong một khu mua sắm. Dường như không ai quan tâm đến điều này vì đối với họ, “lợi nhuận” chắc chắn sẽ xuất hiện.

Sự việc gian lận được sớm phơi bày trên nền khủng hoảng tài chính 2008 khi Madoff nhận được một làn sóng đòi thông báo từ các nhà đầu tư muốn giữ lại tiền khi cuộc suy thoái xảy ra. Những nhà đầu tư này đã tìm cách lấy ra hàng tỷ đô la từ Madoff – số tiền mà Bernie không hề có. Cuối cùng, phần lớn kế hoạch Ponzi sụp đổ khi có quá nhiều nhà đầu tư tìm cách rút tiền của họ cùng một lúc và các nhà điều hành không có tiền mặt trong tay để chi trả.

Charles Ponzi đã thu hút đông đảo dân chúng ở Boston; còn Bernie Madoff cũng đã thu hút được giới giàu có (cũng là những tên gian xảo) ở New York. Cả hai nhóm này đều muốn kiếm những khoản tiền lớn bằng cách dễ dàng nhất dù cuối cùng có bị bắt và chịu những khoản nợ lớn.

~

Một kế hoạch kim tự tháp hoạt động giống như phiên bản của kế hoạch Ponzi. Thay vì các khoản tiền được trả cho từng người, thì các nhà đầu tư trong nhóm dường như đang trao đổi tiền cho nhau. Mỗi người tham gia phải thuê một số nhà đầu tư khác để duy trì kế hoạch. Cuối cùng, mô hình này sụp đổ vì việc tìm kiếm những con mồi mới ngày càng trở nên khó khăn.

Không nên nhầm lẫn các chương trình kim tự tháp này với các hoạt động tiếp thị đa cấp hợp pháp được thực hiện bởi các công ty như Tập đoàn Amway, Avon Products, mỹ phẩm Mary Kay, dịch vụ tài chính Primerica và các dịch vụ khác. Trong các mô hình tiếp thị đa cấp hợp pháp, hoa hồng chỉ có được khi bán các sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty chứ không đơn thuần là khi tìm được một người mới tham gia.

Bong bóng

Bong bóng được tạo bởi các nhà đầu cơ sẵn sàng mua, thậm chí phải trả giá cao hơn đối với những tài sản đã được định giá rất cao từ những nhà đầu cơ khác đã mua chúng ở vòng trước.

Các bong bóng tài chính trong lịch sử tuy khác nhau, nhưng tất cả đều liên quan đến việc kết hợp giữa nền tảng kinh doanh với các yếu tố tâm lý. Ở những giai đoạn đầu tiên, lợi nhuận hấp dẫn của cổ phiếu hoặc hàng hóa đẩy giá tăng cao. Mọi người thực hiện các khoản đầu tư đầy nghi vấn với giả định rằng nó có thể được bán lại với mức giá cao hơn cho một “kẻ ngốc hơn.” Kỳ vọng không thực tế của các nhà đầu tư được giữ vững và họ trở nên tự thỏa mãn cho đến khi bong bóng “vỡ” và giá giảm xuống tại một giá trị cơ bản hợp lý hơn.

Tại sao bong bóng đôi khi diễn ra trong thời gian dài như vậy? Một lý do là không ai thích trở thành một nạn nhân của việc “vỡ bong bóng” và tất cả mọi người đều có niềm tin rằng mình đang trở nên giàu có. Ngoài ra, không có gì là bất hợp pháp khi kiếm lợi nhuận trong thời kì bong bóng diễn ra. Vấn đề duy nhất là cần rút lui trước khi bong bóng nổ. Bất cứ ai sở hữu tài sản có giá trị khi bong bóng vỡ đều là kẻ thua cuộc, giống như người cuối cùng còn lại trên ghế trong một trò chơi âm nhạc.

Củ hoa Tulip (1630). Một trong những bong bóng thị trường nổi tiếng nhất xảy ra trong thế kỉ XVII tại Hà Lan, nơi các củ hoa tulip được buôn bán với số tiền lớn. Hoa và củ hoa đã trở thành món quà xa xỉ, tượng trưng cho địa vị và quyền lực.

Các củ giống hoa tulip đẹp và được tìm kiếm nhiều nhất sẽ phát triển thành hoa với đủ các màu sắc sống động, đường nét và ánh sáng trên cánh hoa, đặc biệt là những giống bị nhiễm một loại virut hiếm gặp gây ra sự đa dạng trong hình dáng. Các củ giống hoa đẹp đã được phân phối đến khoảng 5.000 người thợ mạ tại Hà Lan, một điều đáng chú ý là Rembrandt (danh họa người Hà Lan) chỉ nhận được một phần ba số tiền đó để vẽ The Night Watch vào năm 1642.

Các củ giống tốt thường khan hiếm. Phải mất bảy năm để hạt giống tulip phát triển thành củ và không có gì bảo đảm rằng hoa sau này sẽ có những đặc tính tốt giống như nguồn gốc ban đầu. Nếu như phân chia, các củ hoa sẽ giống thật, nhưng việc phân chia các củ hoa có thể chỉ xảy ra mỗi hai năm một lần.

Hoa tulip nở vào tháng 4 và tháng 5 chỉ trong khoảng một tuần, và củ hoa có thể bị nhổ cả rễ và vận chuyển cẩn thận chỉ từ tháng 6 đến tháng 9. Do đó, việc mua củ giống tại chỗ “giao ngay” để phân phối thực tế chỉ xảy ra trong những tháng này.

“Flame” Tulip

Vào đầu năm 1636, các thương gia Hà Lan gặp nhau tại các quán rượu địa phương, đã tạo ra một loại “thị trường kỳ hạn” chính thức, nơi mua và bán các hợp đồng mua củ hoa vào cuối mùa. Giá hợp đồng của những củ giống hiếm tăng liên tục trong năm. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 1637, giá các hợp đồng hoa tulip bị giảm xuống đột ngột và việc giao dịch hoa tulip và củ hoa bị dừng lại. Sau đó, củ hoa bị rớt giá xuống còn chưa đầy một xu.

Trong thực tế, không có việc vận chuyển các củ hoa thực tế nào được yêu cầu để đáp ứng các hợp đồng tương lai. Nghị viện Hà Lan thông qua một nghị định rằng các hợp đồng có thể bị hủy bỏ với một khoản phí nhỏ – đây có lẽ là “cứu trợ” đầu tiên của chính phủ khi bong bóng đầu cơ này bị bùng nổ!

Cổ phiếu công nghệ (1995-2001). Bong bóng “dot-com” là một bong bóng đầu cơ thị trường chứng khoán cuối những năm 1990, sụp đổ vào năm 2001. Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự nổi lên của các công ty mới trên nền tảng Internet được gọi là “dot-coms.”

Sự kết hợp giữa giá cổ phiếu tăng nhanh, việc các cá nhân đầu cơ vào cổ phiếu và sẵn sàng mở rộng vốn đầu tư mạo hiểm đã tạo ra một môi trường thặng dư. Nhiều công ty dot-com khởi nghiệp đã loại bỏ các mô hình kinh doanh tiêu chuẩn và tập trung vào việc tăng thị phần tại chi phí của lợi nhuận. Nhiều công ty được đánh giá quá cao.

Vào tháng 3 năm 2000, chỉ số tổng hợp NASDAQ đạt đỉnh điểm 5.048, gấp đôi so với chỉ một năm trước. Trong hai năm sau đó, thị trường rơi xuống dưới 1.500, và gần 5 nghìn tỷ đô la giá trị thị trường bốc hơi. Xem biểu đồ giá NASDAQ dưới đây.

Khủng hoảng nhà đất tại Mỹ (2008-2010). Bong bóng giá nhà đất bùng nổ tại Mỹ, với giá nhà giảm xuống khắp nơi. Trung bình, giá nhà tại Mỹ đã gia tăng không ổn định ở mức 143% so với thập kỉ trước, xuất phát bởi các khoản vay dễ dàng và tâm lí của những nhà đầu cơ và các ngân hàng là giá nhà sẽ tăng mãi. Nhưng ai biết được điều gì đang xảy ra?

Biểu đồ trong PDF gốc: NASDAQ, các mốc 1975, 1980, 1985, 1990, 1995, 2000, 2005 và nhãn “dot-com Bubble”.

Bảng giá bánh OREO giai đoạn 1970-1990

Đầu tư vào bong bóng có thể tạo ra lợi nhuận khá cao nếu bạn rút lui trước khi chúng bùng nổ. Nhiều người không làm điều này trong khủng hoảng, và rất nhiều người bị mất nhà…

Bong bóng xảy ra không phải là do các hoạt động gian lận. Tuy nhiên, lừa đảo và gian lận kế toán thường xuất hiện chỉ ngay sau khi các bong bóng bùng nổ. Không ai tìm kiếm và quan tâm khi thời điểm tốt này đang diễn ra. Những gian lận đòn bẩy tài chính cao thường làm công ty hết lượng tiền mặt và bị sụp đổ khi bong bóng bùng nổ.

Gian lận kiểu Garden-Variety

Hầu hết các gian lận trong doanh nghiệp lớn đều đơn giản là sự giả dối. Một số người có quyền lực và vị trí cao giả dối, gian lận và ăn cắp. Thường thì các kế toán viên và cơ quan quản lý không bắt được những kẻ lừa đảo cho đến khi thiệt hại thực sự đã được xác định. Một số các gian lận thú vị gần đây sẽ được thảo luận tại đây.

Salinas Oil Scandal (1963). Anthony “Tino” De Angelis là một nhà kinh doanh hàng hóa tại Bayonne, New Jersey, người đã mua và bán dầu thực vật cho công ty của mình, Tập đoàn Allied Crude Vegetable Oil Refining. Tino là chủ mưu của một vụ lừa đảo khi các con tàu dường như đầy ắp dầu salad (nhưng thực tế chúng chủ yếu chứa đầy nước và chỉ một vài feet dầu salad phía trên) sẽ đến bến cảng của công ty New Jersey. Các giám sát viên xác nhận rằng các tàu toàn là dầu (nhưng chỉ bằng cách nhìn vào phía trên của thùng), và giải phóng cho công ty của Tino hàng triệu đô la trong các khoản vay cho việc vận chuyển lượng hàng tồn kho này.

Những kẻ lừa đảo thất bại khi Tino tham lam và cố gắng làm lũng đoạn thị trường dầu salad của thế giới bằng cách sử dụng số tiền vay gian lận này mua các hợp đồng tương lai. Hơn 50 ngân hàng trong đó có Bank of America, American Express và nhiều công ty thương mại quốc tế đã thua lỗ 1 tỷ đô la trong ngày hôm đó. Tino đã kết thúc với một hình phạt tù bảy năm.

Enron (2001). Một công ty kinh doanh năng lượng ở Houston, tập đoàn Enron là công ty lớn thứ bảy (doanh thu trên 100 tỷ đô la) tại Hoa Kỳ năm 2000. Sau đó, lợi nhuận giảm xuống chạm đáy và Enron đệ đơn xin phá sản năm 2001.

Điều gì đã xảy ra? Gian lận kế toán đã được lập ra, có hệ thống và sáng tạo cho biết các cáo buộc liên bang. Các quan chức cao cấp của Enron, kể cả giám đốc tài chính của công ty, thành lập các vỏ bọc “công ty hợp danh” để che giấu nợ nần. Sau đó, Enron, công ty mẹ, sẽ bán tài sản giữa các công ty vỏ, tạo nên các khoản thu nhập từ sổ sách và sau đó báo cáo lợi nhuận giả tạo.

Mùa hè năm 2000, giá cổ phiếu của công ty đã lên đến 90 đô la một cổ, chính lúc này những người trong nội bộ bắt đầu bán cổ phiếu ra bên ngoài. Cổ phiếu thậm chí giảm xuống dưới 20 xen/ cổ phiếu. Hơn 60 tỷ đô la trong giá trị cổ phiếu của công ty và hơn 2 tỉ đô la quỹ hưu trí nhân viên đã bị mất.

Người sáng lập đồng chủ tịch của Enron, Ken Lay, bị buộc tội gian lận, nhưng đã chết vì đau tim trước khi bị kết án. Cựu Giám đốc điều hành Enron, Jeffrey Skilling, hiện đang phải chịu án phạt 24 năm tù giam vì gian lận. Andrew Fastow, cựu giám đốc tài chính mà một số người cho rằng đây là chủ mưu đằng sau kế hoạch tài chính phức tạp của công ty, đã được đối xử quá dễ dãi với mức bản án chỉ 6 năm tù; vợ ông ta đã bị giam một năm vì tội gian lận thuế. Hãy cẩn thận khi vợ/ chồng bạn yêu cầu bạn cùng ký vào bản khai thuế liên bang.

Arthur Anderson LLP, một trong các công ty kiểm toán lớn nhất trên thế giới, là đơn vị kiểm toán của Enron. Năm 2002, công ty đã bị kết án về việc cản trở các cơ quan chức năng thi hành nhiệm vụ bằng việc hủy các tài liệu kiểm toán liên quan đến Enron. Sau đó, với tư cách một tội phạm bị kết án, Anderson không thể cung cấp các dịch vụ CPA cho các công ty đại chúng nữa. Công ty sụp đổ. Năm 2001, Arthur Anderson đã tuyển dụng 85.000 người trên toàn thế giới và 28.000 người ở Hoa Kỳ, và có doanh thu vượt quá 9,3 tỷ đô la. Ngày nay, công ty có một văn phòng duy nhất tại Chicago với 200 nhân viên.

WorldCom (2002): Trước khi nộp đơn khai phá sản vào năm 2002, WorldCom đã trở thành công ty điện thoại đường dài lớn thứ hai ở Hoa Kỳ. (AT & T sau đó là công ty lớn nhất). Công ty chủ yếu phát triển bằng việc mua các công ty viễn thông nhỏ hơn nhưng sự suy thoái kinh tế nói chung đã tạo ra nhiều khó khăn cho các thương vụ mua lại công ty và mô hình kinh doanh của họ giảm sút.

Để che đậy các khoản thu nhập đang giảm, các nhà quản lý cấp cao chỉ đạo việc ra các báo cáo với chi phí thấp hơn thực tế (chi phí kết nối với các công ty viễn thông khác) và ghi sổ khống với số doanh thu cao ngất ngưởng. Vào thời điểm kế hoạch sụp đổ, tài sản của WorldCom đã bị ghi khống gần 11 tỷ đô la. Cổ phiếu của công ty giảm mạnh từ hơn 60 đô la Mỹ xuống còn chưa đầy một xu.

Bernard Ebbers, Chủ tịch và Giám đốc điều hành nổi tiếng của WorldCom, bị buộc tội gian lận và cung cấp các tài liệu giả mạo cho các cơ quan thi hành luật. Ông ta đang thi hành bản án thời hạn 25 năm tù tại Tổ chức Cải tạo Liên bang Oakdale ở Louisiana. Ngày sớm nhất mà Berni (tù nhân # 56022054) có thể được thả ra là vào tháng 7 năm 2028, khi đó ông ta được 85 tuổi. Năm giám đốc điều hành WorldCom trước đây cũng phải chịu bản án tương đương.

Sarbanes-Oxley

Như bạn có thể thấy từ những ví dụ của chúng tôi, những năm đầu thập niên 2000 là khoảng thời gian đặc biệt chín muồi cho sự gian lận trong nhiều ngành nghề khác nhau. Quốc hội Hoa Kỳ đã bị xúc phạm! Bị xúc phạm bởi đất nước có quá nhiều việc làm bất hợp pháp! Vài việc đã được hoàn thành!

Vì vậy, Quốc hội đã thông qua một đạo luật, “Đạo luật Cải cách Kế toán và Bảo vệ Nhà đầu tư của công ty năm 2002”, gọi tắt là “SarbanesOxley”, được đặt tên theo các nhà tài trợ chính của dự luật, Thượng nghị sĩ Paul Sarbanes (DMD) và Đại diện Michael G. Oxley (R-OH). Dự luật thông qua tại số nhà 423-3 và Thượng viện 99-0. Tổng thống George W. Bush đã đặt bút ký vào đạo luật và cho biết đó là “cải cách sâu rộng nhất trong thực tiễn kinh doanh của Mỹ kể từ thời Franklin D. Roosevelt”.

Luật có 11 phần quy định các điều luật và quy định mới cho báo cáo tài chính của các công ty đại chúng, hành vi của các nhà quản lý cấp cao và các công ty kiểm toán.

Theo luật mới, các quan chức cấp cao của công ty mà lập hoặc chứng nhận các báo cáo tài chính gian lận sẽ bị phạt án dân sự và hình sự. Giờ đây, các giám đốc điều hành (CEO) và giám đốc tài chính (CFO) phải ký vào và cam kết rằng các báo cáo tài chính của công ty công bố ra bên ngoài “không có bất kỳ sai phạm nào liên quan hoặc bỏ sót các thông tin trọng yếu cần thiết trong bối cảnh các báo cáo đó đã được lập, và không gây hiểu nhầm về kỳ tài chính.” Bạn có cảm thấy an toàn hơn với bộ luật này?

Sarbanes-Oxley đã chịu nhiều chỉ trích bởi nhiều người xem nó chỉ như là một xấp giấy nhiều tờ. Còn các nhà bình luận khác hết lời khen ngợi bộ luật là cần thiết để duy trì tính toàn vẹn của hệ thống tư bản. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, có thể có nhiều luật tương tự hơn. Hãy theo dõi.

Có hàng tá sự ngu ngốc trong bản chất của con người bằng không thì người ta đã không bị bắt, hàng nghìn lần, bởi những cái bẫy hớ hênh như thế,… Trong khi họ còn chưa nhớ nổi những sự việc kém may mắn trong quá khứ, họ đã dẫn nhau ra tòa, buộc tội nhau và khiến sự kém may mắn ấy tăng thêm lần nữa.